HỘI CHỨNG RUNG LẮC (SHAKEN BABY SYNDROME - SBS)

HỘI CHỨNG RUNG LẮC

(SHAKEN BABY SYNDROME - SBS)

Bệnh viện Phụ sản – Nhi Đà Nẵng vừa tiếp nhận cấp cứu bệnh nhi 3 tháng tuổi với tình trạng co giật nửa người kèm trợn mắt, tím môi, cơn co giật kéo dài khoảng 15 phút.

Theo thông tin từ người nhà, trước khi nhập viện 2 ngày, bệnh nhi có biểu hiện sốt nhẹ, bú ít, kém linh hoạt. Trước đó, trẻ không bị té ngã, chấn thương, chưa co giật lần nào, được nằm nôi từ sơ sinh và người nhà có rung lắc để dỗ khi trẻ quấy khóc nhiều.

Bệnh viện đã thực hiện các xét nghiệm máu, chụp CT- scan sọ não và ghi nhận kết quả: tụ dịch dưới màng cứng bán cầu não trái (bề dày lớp dịch d #26mm), bên trong có hình ảnh xuất huyết, đẩy lệch đường giữa sang phải d #8mm, dãn não thất bên 2 bên, tụ dịch khoang dưới nhện vùng trán phải. Trẻ được hồi sức tích cưc: hỗ trợ hô hấp, cắt cơn co giật, truyền máu và hội chẩn bác sĩ ngoại thần kinh tiến hành chọc hút giải áp qua khớp vành trái.

Sau khi được xử trí chọc hút giải áp và hồi sức tích cực, tình trạng tri giác bé cải thiện, bú được, không co giật lại.

                                                       

                                         Hình ảnh CT scanner sọ não lúc nhập viện

Cho đến ngày nay, có rất nhiều cảnh báo về thói quen rung lắc bé, hành động vô ý này có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của trẻ. Không ít trường hợp trẻ phải nhập viện trong tình trạng nguy kịch, có thể ảnh hưởng đến tính mạng hoặc để lại di chứng nặng nề. Qua đây, các bậc phụ huynh cần tìm hiểu hội chứng này để chăm sóc tốt và tránh những tai nạn đáng tiếc cho trẻ. Dưới đây là một số thông tin sẽ giúp cho các bậc cha mẹ bổ sung những kiến thức căn bản nhất về hội chứng rung lắc ở trẻ.

Hội chứng rung lắc là gì?

Hội chứng rung lắc (Shaken baby syndrome – SBS) hay còn được gọi là chấn thương đầu kiểu ngược đãi (Abusive Head Trauma) là một dạng chấn thương đầu và não nghiêm trọng xảy ra ở trẻ sơ sinh hoặc trẻ nhỏ khi bị rung lắc mạnh.

Hội chứng này phổ biến hơn ở trẻ dưới 2 tuổi, đặc biệt ở trẻ sơ sinh đến 8 tháng, tuy nhiên trẻ dưới 5 tuổi cũng có thể bị ảnh hưởng.

Nguyên nhân gây ra hội chứng rung lắc là gì?

Nguyên nhân dẫn đến hội chứng này thường là do việc rung lắc mạnh nhằm dỗ cho trẻ bớt khóc, thói quen đưa võng, lắc nôi ru trẻ ngủ, hoặc những động tác đơn giản khi chơi đùa nhưng làm thay đổi tư thế trẻ nhanh đột ngột như: trẻ đang nằm được bế thốc dậy, tung cao trẻ, bồng trẻ đưa lên đưa xuống nhanh, nhấc bổng trẻ lên cao làm máy bay… đều có thể gây nguy hại đến trẻ dù chỉ với thời gian ngắn.

Ở trẻ em, đặc biệt là trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, trọng lượng đầu trẻ chiếm khoảng 25% trọng lượng cơ thể, não bộ chưa phát triển nhiều, lại nằm “trôi nổi” trong môi trường dịch não tủy bao bọc xung quanh và cơ cổ rất yếu chưa chịu được sức nặng của đầu. Khi bị rung lắc mạnh, nhất là động tác tung hứng, quay vòng tròn mạnh... sẽ rất dễ làm tổn thương não và các mạch máu trong não, dẫn đến phù và tăng áp lực nội sọ

                                                                      .

 

Triệu chứng nhận biết hội chứng rung lắc:

Hội chứng này rất thường gặp và đặc biệt nguy hiểm ở trẻ. Tuy nhiên, lại rất khó để phát hiện vì những biểu hiện đa dạng và dễ nhầm lẫn trong những bệnh lý khác. Thông thường rất khó nhận thấy rõ rệt dấu hiệu bên ngoài hoặc triệu chứng thực thể để giúp bạn nghĩ đến hội chứng này. Các triệu chứng xuất hiện thường do hiện tượng phù não lan tỏa thứ phát sau chấn thương. Chúng có thể xuất hiện ngay lập tức sau khi trẻ bị rung lắc và sau đó tiến triển nặng dần.

Những triệu chứng dưới đây có thể giúp nhận ra trẻ bị hội chứng rung lắc:

  • Rối loạn tri giác ở nhiều mức độ
  • Lừ đừ, vật vã, hoặc hôn mê
  • Co giật
  • Nôn
  • Bú kém hoặc bỏ bú
  • Nhịp thở chậm và bất thường
  • Thóp phồng
  • Ngoài ra, trẻ bị thương tổn liên quan đến bạo lực như bầm tím mặt, da đầu, cánh tay, lưng hoặc bụng…

Các tổn thương não sẽ để lại nhiều di chứng thần kinh lâu dài cho trẻ. Tổn thương nhẹ có thể làm cho trẻ chậm phát triển tinh thần, mất khả năng nói năng lưu loát, giảm khả năng học tập… Nếu tổn thương nặng có thể gây xuất huyết võng mạc mắt, giảm thị lực hoặc mù, liệt thần kinh, co giật, thậm chí gây tử vong.

Chẩn đoán hội chứng rung lắc như thế nào?

Để chẩn đoán chính xác tình trạng bệnh, sau khi hỏi về các triệu chứng và quá trình bệnh của trẻ, bác sĩ sẽ thăm khám lâm sàng để đánh giá vị trí tổn thương khám mắt nhằm kiểm tra các chấn thương ở mắt và xuất huyết võng mạc, sau đó được làm các xét nghiệm cần thiết để kiểm tra các dấu hiệu tổn thương não giúp xác nhận chẩn đoán, bao gồm:

  • Chụp cắt lớp vi tính (CT scanner)
  • Chụp cộng hưởng từ (MRI)
  • Chụp X-quang xương: để tìm kiếm các xương bị gãy như cột sống, xương sườn và hộp sọ.
  • Xét nghiệm máu: để loại trừ các nguyên nhân tiềm ẩn khác

Sơ cứu ban đầu và điều trị như thế nào?

Khi trẻ xuất hiện những dấu hiệu nghi ngờ trẻ mắc hội chứng rung lắc, phụ huynh cần:

-  Gọi xe cấp cứu, không nên vận chuyển bằng các phương tiện thông thường.

-  Không bế xốc trẻ lên, hay cố gắng lắc thêm làm cho trẻ tỉnh lại, không cho trẻ ăn, bú.

-  Nếu trẻ ngừng thở trước khi có cấp cứu hỗ trợ, cần phải tiến hành hô hấp nhân tạo.

-  Nếu chấn thương cổ nên cố định cổ và tránh xoay trở trẻ

-  Nếu trẻ nôn và không có chấn thương cổ, cần xoay nhẹ đầu trẻ về một bên để tránh sặc và ngừng thở.

 Điều trị: Tại bệnh viện, các bác sĩ sẽ phải xem xét các thương tổn và quyết định một số điều trị như phẫu thuật cầm máu, dẫn lưu để làm giảm áp lực, thuốc chống co giật…

Khi trẻ có di chứng, cần tiến hành tập vật lý trị liệu, phục hồi chức năng, dùng liệu pháp tâm lý liệu pháp, liệu pháp ngôn ngữ theo hướng dẫn của bác sĩ điều trị.

Phòng ngừa hội chứng rung lắc ở trẻ:

Hội chứng rung lắc ở trẻ là tình trạng hoàn toàn có thể đề phòng được. Những phương pháp sau có thể giúp ích cho phụ huynh trong việc phòng ngừa hội chứng rung lắc ở trẻ:

  • Bố mẹ và người thân cần tránh những động tác xoay chuyển đầu trẻ một cách đột ngột như: rung lắc nôi đối với trẻ nhỏ.
  • Không bao giờ bế thốc ngược; không xốc vác trẻ gấp gáp; không tung hứng trẻ khi nô đùa; không tát, đánh vào tai, vào đầu, vào mặt trẻ.
  • Khi trẻ khóc, nên tìm nguyên nhân, xem trẻ có bị đói, bị sốt, côn trùng cắn hoặc bệnh lý khác hay không.
  • Không nên để người tức giận bế ẵm trẻ, luôn kiểm tra kĩ lưỡng sự an toàn trước khi đưa trẻ cho người khác chăm sóc hoặc ở nhà trẻ. Và đảm bảo các thành viên trong gia đình và người chăm sóc khác cũng nhận thức được sự nguy hiểm của hội chứng rung lắc ở trẻ.
  • Phải tìm cách giảm bớt căng thẳng khi con khóc trong thời gian dài. Hãy nhờ gia đình hoặc bạn bè giúp đỡ khi cảm thấy mất kiểm soát.
  • Phụ huynh nên tham gia các lớp giáo dục nhằm hiểu hơn về sự nguy hiểm của việc rung lắc và có thêm kinh nghiệm trong dỗ trẻ quấy khóc và quản lý căng thẳng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

    • Matschke J, Herrmann B et al (2009), Shaken Baby Syndrome - A Common Variant of Non- Accidental Head Injury in Infants, Dtsch Arztebl Int, 106(13), 211–217.
    • Blumenthal I (2002), Shaken Baby Syndrome, Postgrad Med Journal, 78, 732–735.
    • Ward M, Bennett S. et al (2004), Prevention of shaken baby syndrome: Never shake a baby, Paediatr Child Health ; 9(5), 319-321.
    • Child abuse: Evaluation and diagnosis of abusive head trauma in infants and children, https://www.uptodate.com/contents/child-abuse-evaluation-and-diagnosis-of-abusive-head-trauma-in-infants-and-children?source=history_widget                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                     Nguồn: BS. Võ Tấn Ngà

 

LIÊN HỆ NGAY 0236 395 7777 nếu có thắc mắc!

We truly care about our users and our service.

LIÊN HỆ NGAY

Chức năng nhân viên

Vui lòng chờ trong giây lát